Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Hải Lăng.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
các bước viết KSKN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Dowload từtrang Sở GD ĐT QT
Người gửi: Lê Thị Kim Liễn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:38' 09-04-2011
Dung lượng: 34.5 KB
Số lượt tải: 31
Nguồn: Dowload từtrang Sở GD ĐT QT
Người gửi: Lê Thị Kim Liễn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:38' 09-04-2011
Dung lượng: 34.5 KB
Số lượt tải: 31
Số lượt thích:
0 người
Cách viết Sáng kiến, Kinh nghiệm Ngày tạo: 31/03/2011 Lượt xem: 191
Th.s Hoàng Xuân Thủy
Thông thường sáng kiến, kinh nghiệm (SK,KN) trong các hoạt động ở nhà trường là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khoa học có tính thực tiễn cao, giá trị của SK,KN là ở chỗ tính hiệu quả và khả năng phổ biến rộng rãi.
Đề tài SK,KN có thể thực hiện trong khoảng thời gian 1 hay nhiều năm, nội dung thường đi sâu vào một vấn đề cụ thể nào đó có tính cải tiến, đổi mới hay mang tính nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả làm việc của bản thân mình. Tùy theo tích chất, quy mô và phạm vi ảnh hưởng để có sự đánh giá theo từng cấp cho phù hợp (cấp trường, cấp phòng hay cấp sở). Dù mức độ nào thì cũng nên trình bày SKKN một cách khoa học, bài bản thể hiện được nội dung nghiên cứu, kết quả áp dụng và những vấn đề cần giải quyết tiếp theo, như: những đề xuất để nâng giá trị của đề tài, cách tổ chức áp dụng, nhân rộng..
Hằng năm, thường vào cuối năm học, các cán bộ, giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm để tổng kết và đúc rút kinh nghiệm, tuy nhiên cách viết đề tài là khác nhau. Để việc viết SK,KN theo thể thức thống nhất và đáp ứng được yêu cầu của một đề tài có tính khoa học, tôi đề xuất một phương án viết như sau:
1.Cấu trúc của đề tài
Thường có những phần sau:
*Tên SK,KN: Là tiêu đề, cơ bản bao hàm được nội dung của bản SK,KN.
1.1. Mở đầu
Phần này trình bày phương pháp tiếp cận đề tài. Nó giúp người đọc biết được lý do chọn đề tài, ý nghĩa của SKKN do mình đề xuất, và tác giả đã làm gì để hoàn thành sáng kiến, kinh nghiệm đó, từ đó đánh giá được mức độ thành công. Do vậy, dàn bài của phần này như sau (khoảng 1 – 3 trang):
1. Lý do chọn SK,KN
2. Lịch sử của SK,KN
3. Mục đích nghiên cứu SK,KN
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu
6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
1.2. Nội dung
Đây là phần chính (khoảng 4 – 10 trang). Phần này trình bày tiến trình nghiên cứu và kết quả áp dụng thu được.
Dàn bài phần này thường được trình bày dưới dạng các chương, khi phân theo chương thì ít nhất là 3 chương, thông thường chương 1: trình bày các cơ sở lý luận, chương 2: trình bày các nghiên cứu, chương 3: trình bày những kết quả áp dụng, …), nếu bài ngắn có thể trình bày các mục lớn theo số La Mã.
Trình bày với văn phong nghiên cứu khoa học: chứng minh chặt chẽ, từ ngữ rõ ràng, chuẩn xác, nếu cần định nghĩa các khái niệm được dùng; nếu trích câu nói của ai (thường là nhà khoa học, học giả, những người có tên tuổi trong giới chuyên môn liên quan với đề tài …) phải dẫn rõ nguồn từ tác giả nào? sách nào? nhà xuất bản nào? năm nào? trang nào? … Câu trích dẫn cần chính xác và viết chữ nghiêng (có thể dùng ký hiệu để giải thích vào cuối trang); nếu chứng minh cũng phải có sức thuyết phục (nên có chứng minh, thí nghiệm kiểm chứng, thực nghiệm, điều tra xã hội học, có số liệu so sánh, đối chiếu với cách làm cũ trước đây, …).
Nếu là sáng kiến (có tìm tòi, phát minh) thì phải chứng minh được là trước đó chưa ai tìm ra như của tác giả, và thực nghiệm (hoặc chứng minh) rõ ràng cùng kết quả của nó. Nếu là kinh nghiệm (đúc kết từ thực tiễn) thì cũng tổng kết thành bài học, nếu được, đưa ra quy trình để thực hiện. Tất cả phải khả thi và mang tính phổ biến (nhiều người học được, và khi họ làm đúng quy trình và đều cho ra kết quả như đã tổng kết. Cuối tập sáng kiến, kinh nghiệm thường có phụ lục (hình ảnh, số liệu, sản phẩm, biểu mẫu, văn bản đính kèm, …), và mục lục tài liệu tham khảo đã dùng cho việc viết SK, KN
Nói chung, phải biết sắp xếp các ý cho sự diễn đạt mạch lạc, thu hút, lôi cuốn, đặt biệt là thuyết phục người đọc bằng khả năng trình bày kết quả của mình. Sáng kiến, kinh nghiệm tốt cùng với phương pháp diễn đạt tốt sẽ giúp tác giả thành công khi nghiệm thu, đánh giá.
1.3. Kết luận
Trong
Th.s Hoàng Xuân Thủy
Thông thường sáng kiến, kinh nghiệm (SK,KN) trong các hoạt động ở nhà trường là một trong những lĩnh vực nghiên cứu khoa học có tính thực tiễn cao, giá trị của SK,KN là ở chỗ tính hiệu quả và khả năng phổ biến rộng rãi.
Đề tài SK,KN có thể thực hiện trong khoảng thời gian 1 hay nhiều năm, nội dung thường đi sâu vào một vấn đề cụ thể nào đó có tính cải tiến, đổi mới hay mang tính nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả làm việc của bản thân mình. Tùy theo tích chất, quy mô và phạm vi ảnh hưởng để có sự đánh giá theo từng cấp cho phù hợp (cấp trường, cấp phòng hay cấp sở). Dù mức độ nào thì cũng nên trình bày SKKN một cách khoa học, bài bản thể hiện được nội dung nghiên cứu, kết quả áp dụng và những vấn đề cần giải quyết tiếp theo, như: những đề xuất để nâng giá trị của đề tài, cách tổ chức áp dụng, nhân rộng..
Hằng năm, thường vào cuối năm học, các cán bộ, giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm để tổng kết và đúc rút kinh nghiệm, tuy nhiên cách viết đề tài là khác nhau. Để việc viết SK,KN theo thể thức thống nhất và đáp ứng được yêu cầu của một đề tài có tính khoa học, tôi đề xuất một phương án viết như sau:
1.Cấu trúc của đề tài
Thường có những phần sau:
*Tên SK,KN: Là tiêu đề, cơ bản bao hàm được nội dung của bản SK,KN.
1.1. Mở đầu
Phần này trình bày phương pháp tiếp cận đề tài. Nó giúp người đọc biết được lý do chọn đề tài, ý nghĩa của SKKN do mình đề xuất, và tác giả đã làm gì để hoàn thành sáng kiến, kinh nghiệm đó, từ đó đánh giá được mức độ thành công. Do vậy, dàn bài của phần này như sau (khoảng 1 – 3 trang):
1. Lý do chọn SK,KN
2. Lịch sử của SK,KN
3. Mục đích nghiên cứu SK,KN
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5. Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu
6. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
1.2. Nội dung
Đây là phần chính (khoảng 4 – 10 trang). Phần này trình bày tiến trình nghiên cứu và kết quả áp dụng thu được.
Dàn bài phần này thường được trình bày dưới dạng các chương, khi phân theo chương thì ít nhất là 3 chương, thông thường chương 1: trình bày các cơ sở lý luận, chương 2: trình bày các nghiên cứu, chương 3: trình bày những kết quả áp dụng, …), nếu bài ngắn có thể trình bày các mục lớn theo số La Mã.
Trình bày với văn phong nghiên cứu khoa học: chứng minh chặt chẽ, từ ngữ rõ ràng, chuẩn xác, nếu cần định nghĩa các khái niệm được dùng; nếu trích câu nói của ai (thường là nhà khoa học, học giả, những người có tên tuổi trong giới chuyên môn liên quan với đề tài …) phải dẫn rõ nguồn từ tác giả nào? sách nào? nhà xuất bản nào? năm nào? trang nào? … Câu trích dẫn cần chính xác và viết chữ nghiêng (có thể dùng ký hiệu để giải thích vào cuối trang); nếu chứng minh cũng phải có sức thuyết phục (nên có chứng minh, thí nghiệm kiểm chứng, thực nghiệm, điều tra xã hội học, có số liệu so sánh, đối chiếu với cách làm cũ trước đây, …).
Nếu là sáng kiến (có tìm tòi, phát minh) thì phải chứng minh được là trước đó chưa ai tìm ra như của tác giả, và thực nghiệm (hoặc chứng minh) rõ ràng cùng kết quả của nó. Nếu là kinh nghiệm (đúc kết từ thực tiễn) thì cũng tổng kết thành bài học, nếu được, đưa ra quy trình để thực hiện. Tất cả phải khả thi và mang tính phổ biến (nhiều người học được, và khi họ làm đúng quy trình và đều cho ra kết quả như đã tổng kết. Cuối tập sáng kiến, kinh nghiệm thường có phụ lục (hình ảnh, số liệu, sản phẩm, biểu mẫu, văn bản đính kèm, …), và mục lục tài liệu tham khảo đã dùng cho việc viết SK, KN
Nói chung, phải biết sắp xếp các ý cho sự diễn đạt mạch lạc, thu hút, lôi cuốn, đặt biệt là thuyết phục người đọc bằng khả năng trình bày kết quả của mình. Sáng kiến, kinh nghiệm tốt cùng với phương pháp diễn đạt tốt sẽ giúp tác giả thành công khi nghiệm thu, đánh giá.
1.3. Kết luận
Trong
 







Các ý kiến mới nhất